Làm cho tỉnh Lâm Đồng và TP. Đà Lạt thành một truờng hợp điển hình cho sự Phát triển Quy Mô: Khám phá huớng đi để đến những Giải Pháp Đổi Mới, Mô Hình Thuơng Mại & Thị Truờng.
14 July 2006

Tara Kimbrell Cole

www.synovations.com

Kính thưa quý vị, trước tiên cho tôi được cảm ơn UBND Tỉnh Lâm Đông, Công ty Trung Nguyên và người bạn quý của chúng ta Ông Thái Quang Trung vì đã mời tôi về đây hôm nay. Công ty SYNOVATION cam kết sâu sắc với những giải pháp mang tính bền vững. Tôi thật sự vinh dự được trình bày về sự phát triển bền vững cho Đà Lạt và Tỉnh Lâm Đồng. Muốn bền vững cần phải có sáng tạo, vì vậy cho phép tôi được bắt đầu phần trình bày của mình một cách sáng tạo. Thay vì một câu chuyện ngắn, một câu chuyện ngụ ngôn hay một câu chuyện vui, tôi sẽ bắt đầu bằng một đoạn phim giới thiệu cho bộ phim của Mỹ, có tựa đề “Một sự thật khó chịu.”

“Nếu cả thế giới có cách sống vật chất như Bắc Mỹ, thì cần phải có tới 3 hành tinh trái đất mới có thể đáp ứng được những nhu cầu vật chất của dân số thế giới hiện tại.” Đây là một mô hình chúng ta nên tránh.

Một tác giả người Mỹ nổi tiếng, một nhà chính trị theo chủ nghĩa xã hội, ông Upton Sinclair có phát biểu “thật khó để giải thích cho một người hiểu, khi mà tiền lương của ông ta tùy thuộc vào sự thiếu hiểu biết của ông.”

Câu văn này đã tóm tắt được vấn đề cốt lõi mà các quốc gia đã công nghiệp hóa hiện phải đương đầu. Thách thức đối với những quốc gia đang phát triển, như Việt Nam, là làm sao tìm cho được một con đường mới để đi đến giai đoạn công nghiệp hóa.

Trong bài trình bày này, tôi sẽ đánh giá lịch sử hiện đại và bối cảnh kinh doanh tạo tiền đề cho Dalat và tỉnh Lâm Đồng nắm bắt các cơ hội trong quá trình phát triển ổn định. Tôi sẽ chứng minh và giải thích tại sao cơ hội này là có thật, và bằng cách nào để nắm bắt. Cơ hội, nói ngắn gọn, là phục vụ cho đối tượng không được phục vụ bằng những giải pháp sáng tạo mang tính ổn định và thông qua đó ta có thể tạo ra những mô hình kinh doanh cần có cho việc thương mại và thị trường địa phương được phát triển. Tôi sẽ đưa ra những định hướng hướng tới 5 cụm kinh tế của người không được phục vụ. Các kênh phát triển khác nhau đưa ra trong phần hoạch định tổng thể sẽ được dùng như một phương tiện nhằm phục vụ các thị trường không được phục vụ, vạch ra một lộ trình theo đó Dalat và Lâm Đồng có thể hiện thực hóa những giá trị của mình.

Stuart Hart, chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực doanh nghiệp toàn cầu ổn định, và là giáo sư tại trường đào tạo quản lý sau đại học Cornell, trong cuốn sách gần đây nhất của ông mang tên “Chủ nghĩa tư bản ở ngã ba đường” đã kết luật rằng, sau một thập niên toàn cầu hóa kinh tế, tư hữu hóa và phát triển tự do thương mại, trích nguyên văn, “trong khi giới giàu có ở những quốc gia công nghiệp hóa trở nên giàu có hơn, thì tuyệt đại đa số những quốc gia và con người trên thế giới lại không thụ hưởng được gì từ những thành tựu rực rỡ của chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ tự do. Nền kinh tế trên 40 ngàn tỉ mỹ kim vẫn không phát triển đủ nhanh để tạo việc làm cho hàng chục triệu thanh niên toàn cầu đến độ tuổi lao động mỗi năm. Trái ngược với những gì chúng ta thường nghĩ, thập niên những năm 1990 thực ra lại là thập niên phát triển chậm nhất trong nền kinh tế toàn cầu trong vòng 40 năm qua.” Kết thúc trích dẫn. Tầng lớp trung lưu trong các quốc gia công nghiệp hóa thu hẹp dần, và tầng lớp hạ lưu lại tăng. “Các quốc gia nghèo nhất trên thế giới đã không tăng trưởng hoặc suy giảm từ những năm đầu thập niên 1980.”

Stuart Hart cho rằng “trong quá trình này, các quốc gia công nghiệp hóa và đang trên đường công nghiệp hóa đã lạm dụng ngày một tăng nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặt toàn bộ hệ thống những thành tố cần có cho nền kinh tế nhân loại vào tình trạng khủng hoảng. Không phải chỉ duy nhất có thời tiết thay đổi do việc thải khí car-bon mà toàn bộ hệ sinh thái đã phải xuống cấp, trong đó có rừng, thủy hải sản, đất màu, đưa đến những hậu quả khóc liệt. Thêm vào đó, những thách thức về nạn tăng dân số và việc giữ tốc độ gia tăng sản xuất thực phẩm cho kịp mức tăng trưởng dân số này trong bối cảnh đất màu bị sói mòn và nạn sâm thực của sa mạc ngày một tăng. Bò thì điên, gà thì cúm, nhựa đã chui vào ruột thông qua cá, hóa chất của hảng Teflon, hóa chất không gây dính mặt chảo, đã len vào đến cuốn nhau của các em bé và ở hầu hết các mạch máu, và các căn bệnh lạ cứ ngày một gia tăng.

Theo Stuart Hart, “Những tổ chức gọi là Hiệp thương Washinton; quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng thế giới, và tổ chức thương mại thế giới, tất cả đều đang ngày một nóng lên. Quan trọng là nhữung người bên trong đã phản đối kịch liệt, là những người như Joseph Stiglitz, Jeffrey Sachs, và George Soros. Một phong trào chống toàn cầu hóa đang dấy lên, và được hậu thuẫn bởi các nhà vận động giàu có ở các nước công nghiệp hóa tổ chức các cuộc xuống đường chống lại các tập đoàn đa quốc gia, và hiến pháp của chủ nghĩa tư bản toàn cầu: Tổ chức WTO và Diễn đàn Kinh tế Thế giới.”

Sự khác biệt cơ bản về quan điểm bên trong Hiệp chủng quốc Hoa kỳ có thể không được thế giới biết nhiều. Nền cộng hòa Mỹ đã phân cực trong hơn một thập niên qua đi theo hai trường phái đối nghịch nhau. Ví dụ, Tổng thống Bush không ký nghị định thư Kyoto đã không ngăn chặn được những người đối nghịch đi theo kênh vận động riêng của mình. 12 tiểu ban, nhiều thành phố và nhóm môi trường đã nộp đơn khiếu kiện tổ chức EPA của Mỹ vì theo Luật Không khí sạch của Mỹ thì tổ chức này có trách nhiệm hạn chế thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Gần đây Tòa Tối cao liên bang đã tuyên bố sẽ phán xét việc tổ chức EPA có hay không có trách nhiệm pháp lý trong việc giới hạn việc thải khí car-bon đi-ô-xit và các chất khí hiệu ứng nhà kính khác.

Chúng ta cần nắm những điều này, cũng như tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các quốc gia công nghiệp hóa. Trong các nước công nghiệp hóa, đến 70% việc làm mới là do các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra, và 95% những phát minh mang tính thay đổi về chất ra đời từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. DNVVN đại diện cho khu vực phát triển nhan nhất trong Tổng thu nhập quốc dân của Mỹ, và ở Châu Âu tỉ lệ đại diện này lại còn cao hơn nữa, và ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật tỉ lệ này lên đến 80%. Việc gia tăng và duy trì sự tham gia đóng góp của các DNVVN trong GDP của mỗi quốc gia mang ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Trong thực tế một hình ảnh nước Mỹ được tô vẽ trên quản cáo và các chương trình truyền hình đã bị bóp méo bởi các tập đoàn đa quốc gia bỏ tiền ra làm quản cáo, và hình ảnh nước Mỹ đã được thiết kế nhằm bán hình ảnh thương hiệu, sản phẩm và dịch vụ. Các quản cáo này không cho thấy những hậu quả kinh khủng của nạn ô nhiễm, trầm cảm, béo phì, nghiện ngập, vô gia cư trong một xã hội công nghiệp hóa. Một mặt các quản cáo này làm cho thị trường các nước đang phát triển phải trầm trồ với nền văn hóa Mỹ, mặt khác nó lại làm người ta xem nhẹ và thậm chí xem thường văn hóa địa phương của mình.

Stuart Hart có đoạn “động cơ cấu thành trào lưu chống toàn cầu hóa xuất phát từ những quan ngại về hiện trạng môi trường xuống cấp, bất công, nhân quyền, đế chế văn hóa, và đánh mất tự chủ địa phương.” Giới học giả và một số nhà lãnh đạo kinh doanh đã lên tiếng kêu gọi một quá trình toàn cầu hóa mang tính hữu cơ hơn, một nền tư bản rộng mở hơn và “từ bỏ khuynh hướng phát triển vì muốn bảo vệ quan điểm và nguyện vọng của người địa phương.” Điều trái nghịch là thời đại phát triển đã tạo ra sự nghèo khổ tràn lan do việc phá vỡ những mối liên kết cộng đồng và đã lấy đi quyền sử dụng đất và nước. “Cùng lúc, hiệu quả sau cùng của kỷ nguyên phát triển này lại là việc chuyển nhượng lượng tài sản trị giá khoản 40 tỉ mỹ kim hàng năm từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển kể từ năm 1985. Sau 60 năm, đã đến lúc tư bản hiện đại tiến hóa, đến lúc chúng ta xét lại dựa vào bối cảnh thế giới ngày nay và những hệ quả nó đã tạo ra. Cũng giống như những thay đổi đã tiến hóa trong cách thức các nhà kinh tế định ra những thành tố cấu thành sản xuất, trước kia các thành tố đó là đất, lao động và vốn. Ngày nay, quan điểm này đã thay đổi, và dung nạp vào thêm một thành tố thứ tư, đó là kinh tế tri thức. Kỹ thuật (và kiến thức tạo nền cho kỹ thuật, thông tin, hiệu quả lao động, giáo dục, và vốn tri thức) ngày nay được xem như một phần không thể thiếu được của hệ thống kinh tế.

Chúng ta đứng trước một kim tự tháp, trong đó khoản 800 triệu những người giàu có nhất thế giới có sức mua đồng đẳng cao hơn 15.000USD/năm, 1,5 tỉ người thuộc tầng lớp trung lưu ở các nước đang phát triển với sức mua đồng đẳng ở mức 1.500 đến 15.000USD/năm. Và trên 4 tỷ người ở phía cuối với sức mua đồng đẳng thấp hơn 1.500USD/năm.

Tổ chức nghiên cứu thế giới, trong bài báo cáo “Hiện trạng thế giới năm 2004” đã định nghĩa “tầng lớp mua sắm” là những người có sức mua đồng đẳng vượt qua mức 7.000USD/năm. Theo tiêu chí này, thì gần 50% của 1,7 tỷ người trong tầng lớp mua sắm năm 2004 đã sống ở các quốc gia đang phát triển. Các học giả từ những trường kinh doanh hàng đầu ở Mỹ cho rằng thị trường phát triển không còn chiếm số đa trên thị trường thế giới, mà đang bị thu nhỏ lại, bởi lẽ chỉ có 14% dân số thế giới sống trong nền kinh tế công nghiệp hóa.

Đây là hiện trạng thế giới và từ đó Dalat và Lâm Đồng có thể nổi lên như là một điển hình cho sự ổn định với nền kinh tế tri thức. Nhưng bằng cách nào đây? Câu trả lời ngắn nhất là bằng cách phục vụ những người không được phục vụ, và làm vậy một cách ổn định. Cơ hội lớn phía trước chúng ta là sự phát triển ổn định bao gồm phát triển xã hội, tạo ra giá trị của cải trên diện rộng trong số những người không được phục vụ bởi chủ nghĩa tư bản ngày nay hoặc là bị bóc lột bởi quá trình toàn cầu hóa.

Chúng ta hãy làm rõ nghĩa một số từ.

Khái niệm ổn định tôi đang dùng là theo nghĩa của Tổ chức Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc: nêu trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta 1987: “một nền phát triển đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại và không làm suy giảm đi khả năng đáp ứng nhu cầu của những thế hệ tương lai.”

Các nguyên lý cốt lõi bao gồm:

  1. Tiêu thụ thu nhập, chứ không phải vốn. Vốn ở đây bao gồm luôn cả nguồn nhân lực, vốn kinh tế truyền thống, vốn thiên nhiên, v.v.
  2. Cân đối giữa ngắn hạng và dài hạng. Công suất tiếp diễn vào tương lai xa.
  3. Bảo đảm nhiều hình thức vốn. Lợi nhuận bậc 3: giá trị gia tăng về kinh tế, giá trị gia tăng về môi trường, và giá trị gia tăng về xã hội

Tiêu chí ưu tiên cũng giống như những gì Việt Nam đã đề ra trong Cơ chế Phát triển Sạch cho dự án công nghiệp tiên phong với sự Tổ chức Phát triển Liên hiệp quốc, liên kết với Công nghiệp Úc.

  1. A. Tính ổn định: kinh tế, môi trường, xã hội và pháp luật
  2. Tính thương mại
  3. Tính khả thi

Ổn định đi xa hơn việc “làm xanh” hiệu suất kinh tế, quản lý môi trường, những điều này đồng nghĩa với việc điều chỉnh việc kinh doanh hiện tại để bảo vệ môi trường. Một ví dụ về viêc “làm xanh” là thay vì chấm dứt hình thức kinh doanh hủy hoại môi trường, người ta chỉ đầu tư để làm giảm, bằng cách giảm những hủy hoại mà máy móc, hệ thống đang gây ra. “Làm xanh” vẫn còn nằm trong mục phúc lợi xã hội trong bản cân đối kế toán.

Phát triển ôn định là cơ hội cho sự sống còn của việc kinh doanh nhờ vào phát minh thay đổi về chất, hay còn gọi là phát minh toàn diện. Phát minh toàn diện sẽ thay đổi hoàn toàn những tiêu chuẩn bắt nguồn từ những thị trường phát triển. Không phải phát minh toàn diện nào cũng mang tính ổn định. Phát minh toàn diện muốn ổn định cần phải có tư duy hệ thống toàn diện. Thường thì phát minh toàn diện sử dụng những công nghệ mới, đôi khi cả những công nghệ bị các quốc gia công nghiệp hóa đào thải, hoặc thông qua việc chia sẻ thông tin và tri thức, để nhảy vọt qua những công nghệ hiện hữu không mang tính ổn định, hoặc thông qua các kênh phân phối để làm sạch kỹ thuật và hệ thống vận chuyển. Phát minh toàn diện thông thường (chứ không phải luôn luôn) sẽ cho phép số đông người với ít kỹ năng hoặc ít tài sản có thể khởi sự những việc mà vốn dĩ chỉ có những ai giàu có hoặc tay nghề cao mới làm được.

Nhìn kỹ hơn các khía cạnh của toàn cục nền kinh tế sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn cơ hội này cho một quốc gia thị trường đang phát triển và tại sao cơ hội này đang thuộc về Việt Nam. Tại sao các tập đoàn đa quốc gia không có khả năng làm điều này? Tại sao chỉ có một số ít các tập đoàn đa quốc gia sẵn sàng, cam kết và có thể xây dựng cơ sở hạ tầng cho một định hướng như vậy tại Dalat nhưng vẫn không thể thúc đẩy tới cùng?

Có khoản 60,000 tập đoàn đa quốc gia trên thế giới xưa nay vẫn tập trung phần lớn vào những sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của 75-100 triệu người giàu nhất trên thế giới, và kế tiếp là 700 triệu người ở phía chóp trên của hình kim tự tháp. Sản phẩm và dịch vụ của họ sẽ không còn đáp ứng hiệu suất chi phí trên giá thành nếu vượt ra khỏi phân khúc kinh tế này. Ví dụ, tình hình hiện nay đang bị ô nhiễm đến độ cả Tổ chức Phổi của Mỹ và Tổ chức EPA đã cảnh báo rằng không khí bên trong nhà là một trong 5 mối đe dọa cao nhất cho sức khỏe cộng đồng. Ý chính ở đây là hầu hết các tập đoàn đa quốc gia đang khóa mình vào cái vòng luẩn quẩn của sự phát triển trong một thị trường đã quá bão hòa, và nơi đó người ta cứ cố tìm những phương pháp méo mó để tiếp tục đi tới. Cần phải thay đổi sâu sắc trong tâm thức thì các tập đoàn đa quốc gia mới có thể nhận ra cơ hội ở những quốc gia đang phát triển mà hiện nay hầu như vẫn còn nằm ngoài tầm nhìn của họ.

Để làm rõ hơn ý của tôi, trong 5 năm qua các học giả hàng đầu về kinh tế ở các trường Harvard, Đại học Michigan, Cornell đã liên tục tư vấn cho các tập đoàn đa quốc gia cách để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này:

  1. Cần có những phát minh toàn diện và phát minh triệt tiêu (triệt tiêu mô hình kinh doanh cũ)
  2. Nguồn tài sản lớn kế tiếp sẽ đến từ phía đáy của hình kim tự tháp
  3. Tìm giải đáp cho những vấn đề bức xúc của thế giới

Các TĐ đa quốc gia còn khó khăn hơn để nhận ra những cơ hội sau đây:

  1. 95% những phát minh toàn diện đến từ DN vừa và nhỏ, chứ không phải TĐĐQG
  2. Giám đốc của các TĐ ĐQG không thể hiểu được những giá trị bản địa của từng nơi. Họ không biết gì cả về phần lớn nhân loại, và cần phát triển kỹ năng giao tiếp. Các TĐ ĐQG phải “học cách cùng phát triển những mô hình thương mại tương thích với ổn định theo định hướng nâng cao đời sống của số đông. Khái niệm này mâu thuẫn với đặc điểm mô hình tư bản.
  3. Toàn bộ khái niệm về kinh tế toàn cầu cần phải được mở rộng

Thực tế mô tả trong bối cảnh này là những lý do tại sao Dalat và Lâm Đồng đang có trong tay cơ hội này. Hầu hết các TĐ ĐQG với một hệ thống vận hành cồng kềnh sẽ không thể dịch chuyển cơ động bằng các thị trường đang phát triển và các doanh nghiệp trong đó để chuyển hướng và đi tắt đón đầu bằng những phát minh toàn diện theo hình thức một nền tảng khuôn mẫu về sự phát triển hệ thống ổn định toàn diện. Thực ra đây cũng là lý do tại sao Việt Nam có cơ hội chọn một lối đi riêng cho mình so với các quốc gia trong khối Asean vì một số quốc gia trong khối đang đi theo lối công nghiệp hóa kinh điển hoặc có nhiều hạn chế.

Giờ chúng ta xem xét đến các loại hình thành viên cùng phát triển.

Cũng xin lưu ý rằng vẫn có những TĐ ĐQG đang đi đầu trong việc chuyển đổi sang phát triển ổn định, thường thì ở ngành năng lượng và hóa chất, như BP và Dupont. Cuối thập niên 1990 Dupont bắt đầu chuyển đổi từ một công ty hóa dầu sang một công ty nguồn năng lượng có thể tái tạo. Khi chọn đối tác, hãy hết sức thận trọng trong việc đánh giá mức độ cam kết và triển khai tính ổn định của toàn bộ hệ thống của đối tác cùng phát triển của mình.

Có những bài học được đúc kết từ những khó khăn mà các DN VVN đã phải đương đầu để đưa ra 95% phát minh. Trong quá trình phát minh, điều khó khăn là làm sao thâm nhập và tạo thị phần. Giải pháp nằm ở nhóm những người không được phục vụ, và phát triển ở đây sẽ thoát khỏi tầm ra-đa của các TĐ ĐQG. Bài học này có thể được áp dụng ở Việt Nam.

Các DNVVN sáng tạo ở các nước công nghiệp hóa có thể là một đối tác cùng phát triển tốt. Với kỹ thuật, mối liên kết đôi bên cùng có lợi này sẽ dễ thành hiện thực. Nhà phát minh và thị trường đang phát triển như Việt Nam nên “tránh đối chọi trực diện với các TĐ ĐQG có trong nước, và các thị trường phát triển, vì điều này sẽ dễ đi đến kết cục là đổi chiều phát minh.” Phát triển và phát minh chỉ có thể xảy ra ở các quốc gia đang phát triển, tại những thị trường chưa được các quốc gia phát triển biết nhiều.

Giờ chúng ta hãy xem xét một số định hướng trong việc đi tìm những giải pháp sáng tạo, những mô hình kinh doanh và thị trường để bạn xem xét:

  • Xây dựng một quy trình để hiểu xâu toàn bộ hệ thống tương thích với các giá trị của Phật giáo. Tránh suy nghĩ theo cách “làm xanh”, hãy nhảy vọt.
  • Phát triển thị trường địa phương mà không phá vở nền kinh tế không chính quy vốn được duy trì bởi các giá trị bản địa và cộng đồng. Thanh toán những loại hình kinh doanh này sẽ gây sự tuyệt vọng, hung hãn và tội đồ. Tập trung vào việc biến những hình thức kinh tễ không chính quy thành thị trường địa phương. Tuyệt đối lưu ý rằng bất kỳ mô hình kinh doanh mới nào cũng đều không được phép sáo trộn văn hóa và cách sống của Dalat và Lâm Đồng.
  • Nhận ra và trân trọng sự phong phú của nguồn lực bản địa và các giải pháp thay thế. Bao gồm:
    • Nền kinh tế thiên nhiên và tính đa dạng sinh thái của nó
    • Mô hình kinh tế truyền thống như buôn bán trao đổi hàng cấn trừ, các hoạt động sinh hoạt mang tính ổn định, nền nông nghiệp tự cung tự cấp, dùng vốn tự có, cơ sở sản xuất gia đình, liên kết sản xuất, hợp tác xã, quy luật “cho nhận”, chăm sóc gia đình

    Lưu ý là “tiêu chuẩn cuộc sống có thể thực tế rất cao, ngay khi GDP trên đầu người có thể rất thấp.”

  • Xây dựng và vận hành một cách ổn định nền cơ sở hạ tầng, hệ thống, công suất, sản phẩm và dịch vụ cho nhiều tầng lớp kinh tế trong xã hội với mức liêm chính cao nhất xuyên suốt trong toàn hệ thống. (Thật tỉnh táo để không tự bán mình, hoặc đưa ra những giải pháp giả tạo. Cách này là cách phá hủy quy trình hệ thống từ bên trong phá ra.)
  • Một định hướng địa lý; hãy lưu ý là vận tải chiếm tỉ trọng lớn nhất trong việc thải khí car-bon ra môi trường. Hãy phục vụ các cộng đồng tại Lâm Đồng và những khu vực lân cận trước. Hãy xem xét thật kỹ mọi khía cạnh về chi phí vận tải khi đánh giá thị trường vươn tới cũng như sản phẩm và dịch vụ. Xuất khẩu dẫn đến tăng trưởng theo chủ trương của Hiệp thương Washinton đang bị chỉ trích vì hậu quả là cung vượt cầu dẫn đến tình trạng giảm phát. Xúc tiến chỉ khi nào đã xem xét đầy đủ và đắn đo đúng mức về vấn đề đạt cho được sự cân đối tinh tế ổn định tổng thể.

Giờ chúng ta chuyển sang tìm hiểu những phương cách để có được những giải pháp, mô hình kinh doanh và thị trường một cách sáng tạo.

SYNOVATIONS đã chia ra 5 phân khúc kinh tế của thị trường những người không được phục vụ trong kim tự tháp để xem đó là đối tượng phục vụ của hệ thống Đa Lat, Lâm Đồng.

  1. Đối tượng không được phục vụ ở đỉnh kim tự tháp, trong cả những quốc gia công nghiệp cũng như đang phát triển
  2. Đối tượng không được phục vụ trong tầng lớp trung lưu đang hình thành tại các quốc gia đang phát triển với sức mua đồng đẳng ở mức 7.000USD đến 15.000USD một năm
  3. Đối tượng không được phục vụ trong tầng lớp trung lưu với sức mua đồng đẳng ở mức từ 1.500USD đến 7.000USD một năm
  4. Đối tượng không được phục vụ ở đáy kim tự tháp với sức mua dưới 1,500USD một năm
  5. Tầng lớp hạ lưu đang phát triển ở các quốc gia công nghiệp hóa giao động từ 15.000USD đến 1.500USD một năm

Bây giờ tôi sẽ đề cập đến những giá trị độc đáo và cạnh tranh của Dalat và Lâm Đồng.

Những điểm nóng đa dạng về sinh thái là những khu vực trên hành tinh có hệ sinh thái phong phú nhất đang bị đe dọa. Để hành tinh trái đất ổn định, chúng ta cần 20% những khu vực này được luật pháp bảo vệ (chứ không phải chỉ đơn thuần việc phong tặng danh hiệu) trong vòng 8 năm tới. Hiện chúng ta chỉ mới đạt 50% chỉ tiêu này. Những khu vực này có nhiều loài đặc chủng. Ngày nay các khu vực phong phú về sinh thái chỉ chiếm 2,3% diện tích mặt đất. Mỗi điểm nóng hiện nay đã mất ít nhất là 70% các loài thực vật tự nhiên nguyên thủy. Hơn 50% các loài thực vật trên thế giới và 42% các loài động vật xương sống ở trên cạn là đặc chủng tại chỉ vỏn vẹn 34 điểm nóng còn sót lại.

Vậy cho nên rất cần những nhà cầm quyền thông thái và can đảm trong số 34 điểm nóng kia đi đầu trong việc xây dựng một cộng động ổn định trong điểm nóng đó.

Việt Nam nằm ở cực đông của điểm nóng Inđô-Burma, trải dài qua cực tây tiếp giáp Bangladesh, là một trong những hệ sinh thái phong phú nhất thế giới đang bị đe dọa. Thực vật trong vùng Indo-Burma trước kia trải rộng trên 2 triệu Kilomet vuông. Tổng cộng hiện nay chỉ có 236,000km2 là được bảo vệ chính thức, chiếm chỉ 10% diện tích điểm nóng. Trong đó chỉ có 132,280km2 là được bảo vệ nghiêm ngặt theo Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế. Xây dựng một thành phố và tỉnh ổn định ngay trong lòng một trong những hệ sinh thái phong phú nhất sẽ là mô hình đầu tiên cho thế giới. Đây sẽ là mô hình kiểu mẫu cho tất cả các quốc gia đang phát triển.

Hầu hết các thành phố đều bị gánh nặng của cơ sở hạ tầng cũ kỷ, và các doanh nghiệp đang hoạt động nơi đó chỉ có thể loay hoay trong phạm vi “làm xanh”. Dalat và Lâm Đồng vẫn chưa đi quá xâu vào quá trình công nghiệp hóa, nên có khả năng nhảy vọt trong công nghệ để đến được mô hình thật sự ổn định. Những giá trị Phật giáo, ý thức của nền văn hóa địa phương có thể hỗ trợ rất tự nhiên quá trình và sự ổn định này.

Đến năm 2030, 60% nhu cầu năng lượng cơ bản của thế giới được dự đoán là xuất phát từ các quốc gia đang phát triển. Ngày nay Trung Quốc là quốc gia đứng thứ 2 trên thế giới trong việc gây ô nhiễm. Mưa axit của Trung Quốc đã phá hoại ¼ đất của Trung Quốc, phá hoại hoa màu của Hàn Quốc và Nhật Bản. Dalat và Lâm Đồng có thể trở thành một ốc đảo thực thụ của cuộc sống ổn định nhờ vào độ cao và vị trí địa lý của mình, Dalat Lâm Đồng có thể tránh được những ảnh hưởng xấu của các nước lân ban đồng thời có thể tận dụng cơ hội ở gần những thị trường hế sức năng động. Dalat và Lâm Đồng nếu thành công sẽ là điểm mốc cho Châu Á.

Các kênh phát triển khác nhau được xem xét trong hôm nay và ngày mai sẽ là phương tiện để phục vụ cho 5 phân khúc kinh tế đề cập trên đây. Đây là lộ trình khởi điểm giúp Đalat Lâm Đồng thể hiện được những giá trị độc đáo của mình. Tôi sẽ điểm sơ qua một số nét để phát họa bức tranh tổng thể và định ra những phân khúc mà những người không được phục vụ sẽ được hưởng lợi.

Việc hoạch định và xây dựng cơ sở hạ tầng cho thành phố được phát triển và triển khai một cách tuyệt đối trung thực sẽ phục vụ mọi tầng lớp kinh tế xã hội của tỉnh.

Sự xuống cấp của môi trường và hiệu ứng nhà kính sẽ ảnh hưởng đối tượng người nghèo nặng nề nhất. Vì vậy việc xây dựng và tận dụng kỹ thuật môi trường sẽ có tác dụng lớn và ngay tức thời đối với đối tượng người nghèo này, và thực tế cũng phục vụ luôn cho tất cả chúng ta.

Dalat, là một thành phố đại học, sẽ ở vị trí lý tưởng để làm nền tảng cho những ngành sau:

  • Ngành Phật học và những văn hóa bản địa của Việt Nam, cung cấp những học giả Phật học cho Châu Á (cấp độ 1à 4 trên kim tự tháp)
  • Nghiên cứu và khảo sát để cho ra đời một hệ đo lường để định vị giá trị cho các nguồn lực đặc thù địa phương và các giải pháp thay thế trong nền kinh tế không chính quy (mức 3, 4 và sau này 5)
  • Nghiên cứu và khảo sát mô hình kinh tế không chính quy và các phương thức ứng dụng kỹ thuật để nhảy vọt đến kỹ thuật sạch nhằm phục vụ đối tượng bên dưới tầng lớp mua sắm và những người ở mức thấp. (mức 3, 4)
  • Khám phá và nuôi dưỡng các mô hình kinh doanh, thị trường mang tính phát minh toàn diện (mức 2- 5)
  • Xây dựng trường bảo tồn để nghiên cứu các hệ sinh thái và sinh vật trong điểm nóng Indo-Burma, và có thể liên kết phát triển cùng các học viện như Viện Bảo Tồn Thế Giới và ICUN (mức 1-5)
  • Kinh tế tri thức (mức 2, 3, 4)
  • Khái niệm Thung lũng sinh học, làm nghiên cứu khảo sát và phát triển công nghệ sinh học (mức 2, 3, 4, 5)
  • Học viên du lịch và khách sạn nhằm hỗ trợ tạo việc làm cho người địa phương. Một khu spa vì sức khỏe ổn định. Ngày nay hầu hết các spa chỉ giao động trong phạm vi “làm xanh” và không ổn định. (mức 3, 4)

Khi các mô hình kinh doanh ổn định và phát minh ra đời, thì những điều này sẽ đi tới các quốc gia công nghiệp hóa để phục vụ tầng lớp hạ lưu nới đó.

Ngành Spa dưỡng sinh với những dịch vụ hỗ trợ đi kèm sẽ là yếu tố cốt lõi trong việc định vị giá trị độc đáo cho Dalat và Lâm Đồng (mức 1, 2, 3)

Ngành dưỡng sinh tại các quốc gia công nghiệp hóa sau hơn 30 năm đã vừa mới chuyển sang giai đoạn tăng trưởng cực mạnh. Có những sản phẩm nuôi trồng hữu cơ, dược thảo, vải chế tạo hữu cơ, các sản phẩm vệ sinh cá nhân, du lịch spa và các bộ sản phẩm đi kèm. Đậy là phân khúc người không được phục vụ ở ngọn kim tự tháp.

Lý do: các sản phẩm cây trồng và thực phẩm chiếm ưu thế tuyệt đối tại các quốc gia công nghiệp hóa. Các thị trường khác vẫn chưa xây dựng một tổ chức bảo đảm chất lượng thật uy tín. Trong khi đó gần đây tổ chức bảo đảm chất lượng của Mỹ đã bị tham nhũng, và chỉ còn Liên Minh Châu Âu và Úc phục vụ thị trường này. Khó khăn nữa của phân khúc thực phẩm hữu cơ là yếu tố dinh dưỡng của thực phẩm tươi đã bị giảm theo khoản cách vận chuyển. Và vận tải càng xa thì khí thải càng nhiều, và điều này lại ảnh hưởng xấu đến khả năng nuôi trồng. Việc xuống cấp chất màu trong đất do phân vô cơ và thuốc diệt sâu rầy gây ra lại đề cao hơn tầm quan trọng của việc bảo vệ giá trị dinh dưỡng trong thực phẩm. Và vì vậy thậm chí đối với phân khúc đỉnh của kim tự tháp cũng chưa chắc có thể mua nổi.Thị trường này đang phát triển tại Châu Á và có nhu cầu được phục vụ.

Nếu một mô hình spa dưỡng sinh có thể ra đời bảo đảm tính ổn định về chi phí, thì sản phẩm của nó sẽ phục vụ nhóm những người ở phía trên kim tự tháp, đồng thời tạo việc làm cho những người ở bên dưới.

Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, đầu tư theo mô hình lợi nhuận bậc 3 – phục vụ người không được phục vụ ở đỉnh kim tự tháp đi tìm cơ hội đầu tư bảo đảm tiêu chuẩn ổn định của họ. Một nguồn quỹ cho Dalat và Lâm Đồng có thể sẽ đến từ việc đầu tư như vậy (mức 1-5)

Tôi rất mong mỏi được nghe các phần thuyết trình trong hôm nay và ngày mai. Khi nghe những phần trình bày như vậy và có thêm thông tin và sự hiểu biết về các đề tài, cách triển khai, lúc đó một bản quy hoạch tổng thể sẽ ra đời.

Tóm lại, sự kết hợp độc đáo giữa một thành phố đại học, nền kinh tế tri thức, trung tâm dưỡng sinh cho ngành du lịch được thực hiện trên bản chất ổn định, kết hợp hài hòa với văn hóa địa phương, nằm trong điểm nóng Indo-Burma, quả thực trên thế giới chỉ có một không hai. Điều này sẽ đưa Việt Nam vượt qua các quốc gia khác trong khối ASEAN, trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và Toàn cầu.

Một mô hình thành phố và tỉnh ổn định sẽ là chiếc chìa khóa chiến lược để thay đổi phương cách công nghiệp hóa truyền thống. Cũng vô cùng thiết yếu đối với việc mang lại cho các quốc gia đang phát triển khác một điển hình trải nghiệm cho một phương cách mới để các quốc gia ấy noi theo. Mô hình Dalat và Lâm Đồng chắc chắn sẽ lan nhanh và lan rộng ra các cộng đồng khác. Trong quá trình phục vụ người không được phục vụ tại Việt Nam, khu vực và các nước đang phát triển khác, những phát minh của các bạn sẽ vươn đến người dân tầng lớp hạ lưu ở các quốc gia công nghiệp hóa. Hy vọng điều này sẽ làm cho họ nhận ra rằng, chính vì sự sinh tồn của họ, họ nên kiếm thu nhập tài chính bằng cách phục vụ cuộc sống, chứ không nên theo cách hiện tại của họ là thuần túy kinh doanh vị kinh doanh. Thế giới rất cần một cộng đồng được xây dựng dựa trên yếu tố con người, với những giá trị sâu xắc của bản địa, và trong đó sự thông thái vẫn được trân trọng và đóng vai trò dẫn dắt. Tôi tin rằng tất cả chúng ta đây hôm nay đều dấn thân để đến được viễn cảnh này, và sẽ hết lòng hỗ trợ TP Dalat và tỉnh Lâm Đồng trong việc nắm bắt cơ hội này.

Chân thành cảm ơn.

The contents are not to be cited or reproduced in any form without prior and explicit permission of the author. Views expressed herein are entirely those of the author.

Copyright © 2006 Tara Kimbrell Cole